Đối phó với đồng đô-la đang mất giá – Phần I

Published on YaleGlobal Online Magazine (http://yaleglobal.yale.edu)
Home > Đối phó với đồng đô-la đang mất giá – Phần I

Đối phó với đồng đô-la đang mất giá – Phần I

Đối phó với đồng đô-la đang mất giá – Phần I

Để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng tiền tệ, Trung Quốc phải gánh vác trọng trách lớn hơn trong việc quản lý hệ thống tài chính toàn cầu
Jeffrey E. Garten
YaleGlobal, 7 February 2005

NEW HAVEN: Sự chậm chạp của Trung Quốc trong việc nâng giá đồng nhân dân tệ khi kết thúc kỳ họp Nhóm bảy nước công nghiệp hàng đầu G-7 tại London cuối tuần qua không có gì đáng ngạc nhiên, nhưng là một điều không may. Thật vậy, Bắc Kinh tuyên bố họ sẽ hướng đến tỷ giá hối đoái linh hoạt, nhưng họ đã tuyên bố như vậy rất lâu rồi. Nếu G-7 không hợp tác được với Trung Quốc để sắp xếp lại tiền tệ của họ trong một tương lai gần thì nền kinh tế thế giới có thể lâm nguy.

Cho đến nay, căn bệnh tài chính toàn cầu đã được chẩn đoán kỹ càng. Và nó không biến mất ngay cả khi đồng đô-la tăng giá gần đây, dù có thể chỉ là tăng tạm thời. Số tiền thâm hụt tài khoản vãng lai quá lớn của Hoa Kỳ và tình hình thiếu thốn các khoản tiết kiệm không kém phần nghiêm trọng đang khiến cho Chú Sam phải vay mượn các chủ nợ nước ngoài hơn một tỷ đô-la mỗi ngày.

Nợ nước ngoài của Hoa Kỳ giờ đây đã vượt quá con số 2500 tỷ đô-la, các chủ nợ nước ngoài có thể nhanh chóng đòi hỏi một mức lãi suất cao nhất từ trước đến giờ để duy trì dòng tiền chảy vào Hoa Kỳ. Nguy cơ của hành động tăng giá này là một cuộc suy thoái kinh tế của Hoa Kỳ, cuối cùng sẽ lan ra toàn cầu.

Đa số các chuyên gia kinh tế đưa ra đơn thuốc là phá giá đồng đô-la để kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, nhờ đó giảm tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai. Đồng đô-la đã sụt giá khoảng 15% so với các đồng tiền giao dịch của nó kể từ năm 2002. Một số chuyên gia cho rằng đồng đô-la cần mất giá khoảng 10-15% nữa để giảm thâm hụt xuống một nửa, đảm bảo nguồn vốn mới chảy vào trong nước mà thị trường có thể duy trì một cách dễ dàng.

Sự mất giá đồng đô-la ở mức độ nghiêm trọng như vậy sẽ làm cho Hoa Kỳ nghèo hơn về kinh tế và yếu hơn về chính trị vào một thời điểm mà vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trên trường thế giới – từ chống khủng bố đến dẫn đầu trong tự do mậu dịch – chưa bao giờ cấp bách đến thế. Thực vậy, một siêu cường quốc trên thế giới mà lại có tiền tệ mất giá quả là một nghịch lý.

Vậy thì thế giới phải làm gì để điều chỉnh cho phù hợp với sự mất cân bằng hiện nay? Đồng đô-la không nhất thiết phải trượt dài như vậy nếu như các quốc gia khác cho phép tiền tệ của mình tăng giá và nhờ đó dàn trải được gánh nặng điều chỉnh đều hơn. Châu Âu đang thực hiện phần việc của mình bằng cách chấp nhận đồng euro siêu mạnh và không can thiệp vào thị trường để giảm giá trị đồng euro xuống. Đa số các chính phủ châu Á lại đi nước bài ‘cơ hội’ bằng cách bán tiền tệ của mình lấy đô-la để ép tỷ giá hối đoái của mình xuống một cách giả tạo. Một số chính phủ – quan trọng nhất là Bắc Kinh – chỉ gắn kết tiền tệ của mình với đồng đô-la do đó hoàn toàn không hề san sẻ gánh nặng điều chỉnh.

Nếu như đồng đô-la tiếp tục trượt dài và nếu các đồng tiền của châu Á tiếp tục bị ép giá một cách cố ý, tất cả các áp lực tăng giá đều chuyển hết sang đồng euro. Trong trường hợp này, châu Âu sẽ trở nên kém cạnh tranh, tạo áp lực bảo hộ hết sức nghiêm trọng trong khu vực EU, nơi tạo ra một phần ba GDP toàn cầu.

Nếu Trung Quốc ngưng gắn kết đồng nhân dân tệ với đồng đô-la – tỷ giá hiện nay ở mức cố định là 8,25 nhân dân tệ ăn 1 đô-la Mỹ - thì đây cũng không phải là giải pháp duy nhất cho sự mất cân bằng trên toàn cầu. Xuất khẩu của Trung Quốc vẫn sẽ rất cạnh tranh và quốc gia này vẫn cần lượng nhập khẩu khổng lồ để tiếp liệu cho nền kinh tế lớn và đang tăng trưởng như vũ bão của mình. Nhưng trong vai trò là trọng tâm đang tăng trưởng của khu vực, Bắc Kinh sẽ dễ đi tiên phong để các quốc gia khác thể hiện sự linh hoạt hơn trong nội tệ. Nếu Trung Quốc và phần còn lại của châu Á cùng chia sẻ gánh nặng tài chính thì sự dịch chuyển gánh nặng này sẽ có ý nghĩa rất lớn.

Để chắc chắn, Trung Quốc có một số lý luận dễ hiểu để phản đối sự nâng giá. Ví dụ, chính phủ không muốn gây khó khăn cho một hệ thống ngân hàng vốn đã mong manh. Hơn nữa, Bắc Kinh e rằng sự nâng giá có thể ảnh hưởng đến một chiến lược tăng trưởng phải tạo ra 25 triệu việc làm mỗi năm nếu muốn đảm bảo ổn định xã hội. Tuy nhiên, còn có những lập luận phản biện khác mạnh mẽ hơn. Trước hết, Trung Quốc cần phải giải quyết các vấn đề kinh tế quốc nội của mình một cách trực tiếp hơn bằng cách tái cơ cấu bản cân đối kế toán của ngân hàng, đẩy mạnh thị trường vốn nội địa, tạo các công cụ bảo hiểm rủi ro ngoại hối, cải thiện công tác quản lý của các công ty v.v… – đây là những quá trình vừa mới bắt đầu, nhưng chắc chắn có thể phát triển nhanh.

Thứ hai, Trung Quốc đã đối phó với nền kinh tế quá nóng của mình hầu như chỉ bằng những mệnh lệnh hành chính phi thị trường, chẳng hạn như buộc ngân hàng xiết chặt việc cho vay, thay vì cho phép các lực thị trường tác động đến lãi suất và mức tiền tệ. Nhưng những biện pháp cấp thời này khó có khả năng hoạt động hiệu quả; thật vậy, mục tiêu làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc mới chỉ đạt kết quả rất khiêm tốn. Một đồng nhân dân tệ mạnh hơn có thể có tác dụng, đồng thời kiềm chế lạm phát.

Thứ ba, đầu tư nước ngoài đang đổ vào Trung Quốc, một phần là vì trông chờ vào đồng nhân dân tệ lên giá. Nhờ vậy mà dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã vượt quá 600 tỷ đô-la Mỹ, chỉ đứng sau Nhật Bản. Xuất siêu của Trung Quốc đã và đang tăng mạnh, dự trữ tăng hơn 50% chỉ trong năm ngoái. Nếu càng trì hoãn việc nâng giá thì mức tăng giá sau này sẽ càng cao và càng khó khăn hơn. Hơn nữa, hiện đang ngập trong tiền, Trung Quốc quá nhạy cảm đối với sự mở rộng tín dụng thiếu thận trọng – đây vốn đã là một vấn đề có nguy cơ trở nên tồi tệ hơn.

Bắc Kinh đã đạt được lợi ích khổng lồ trong quá trình mở rộng thương mại toàn cầu đầy suôn sẻ. Trung Quốc và các quốc gia khác, vốn đang khao khát gia tăng ngoại thương và đầu tư, sẽ thành công hơn trong một thế giới mà các đơn vị tiền tệ chính tương đối ổn định với nhau – không hẵn là cố định hoàn toàn như thời kỳ bảo chứng vàng, mà dao động trong một khoảng được xác định trước. Hiện nay, hệ thống tiền tệ đang vô trật tự một cách nghiêm trọng. Các quốc gia chính yếu, trong đó có Trung Quốc, cần phải tạo ra một hệ thống trong đó các gánh nặng về điều chỉnh được san sẻ tốt hơn. Đã đến lúc phải có một hiệp ước chính thức về các tiền tệ trên toàn cầu.

Mục tiêu rõ ràng của hiệp ước này là sự chuyển dịch một lần lên tỉ suất ngang nhau giữa các đồng tiền chính, nhưng tỷ suất có thể dao động trong một một khoảng nhất định. Trung Quốc sẽ đưa vào đồng nhân dân tệ một mức độ linh hoạt nào đó, ví dụ như bằng cách gắn nó vào một rổ gồm nhiều loại tiền tệ khác nhau và cho phép khoảng dao động 5%. Hiệp ước này sẽ chặn lại sự tăng giá của đồng euro trong một khoảng nhất định và Nhật Bản sẽ phải đồng ý không cố tình hạn chế sự tăng giá của đồng yên. Khi các gánh nặng được san sẻ công bằng hơn, Hoa Kỳ có thể tránh được một sự phá giá quá lớn.

Thỏa thuận này sẽ phải dựa trên sự đồng thuận quan trọng rằng các loại tiền tệ không thể và không nên chịu toàn bộ gánh nặng điều chỉnh kinh tế toàn cầu. Các chính sách thu chi ngân sách, tiền tệ, lao động và điều tiết ít nhất cũng phải đóng vai trò không kém phần quan trọng. Điều này có nghĩa là Washington phải mạnh tay với chính sách chi tiêu và thuế của mình, Châu Âu phải giải quyết các quy chế cứng nhắc và Trung Quốc phải quan tâm đến các ngân hàng được mở rộng quá mức.

Các viên chức Trung Quốc thường coi đất nước mình như một quốc gia nghèo đang phát triển, cần một khoảng thời gian lớn để hòa nhập vào hệ thống tài chính toàn cầu. Thu nhập đầu người của nước Trung Hoa có thể còn nhỏ bé, nhưng với kích thước khổng lồ của nó, tinh thần kinh doanh sẵn có của người dân và khả năng đề ra những chính sách khôn ngoan, đất nước này đã thức đẩy một sự thay đổi lớn trong cơ cấu công nghiệp toàn cầu trong vòng chưa đầy một thập kỷ. Nhiều điều nữa hứa hẹn sẽ đến khi Trung Quốc thống trị nền sản xuất trên thế giới, nhanh chóng tham gia vào một số ngành công nghệ cao và chứng kiến hàng chục triệu nhân công mới của mình bước vào nền kinh tế toàn cầu. Thế giới không có đủ sự xa xỉ để cho phép Bắc Kinh kéo dài và trì hoãn việc đảm nhận thêm trách nhiệm quản lý nền kinh tế toàn cầu. Xét cho cùng, cả Trung Quốc cũng không.

Jeffrey E. Garten là Hiệu trưởng Trường Quản Lý của Đại học Yale. Ông đã từng là giám đốc điều hành của Tập đoàn Blackstone và nắm giữ các vị trí kinh tế và chính sách đối ngoại dưới chính quyền Nixon, Ford, Carter và Clinton.

Rights:© 2005 Yale Center for the Study of Globalization

Comments on this Article

Post new comment

Enter verification code before submit