MEDFORD: Đề xuất ngân sách 2,57 ngàn tỉ Đô-la của Tổng thống Mỹ George W. Bush đã mang lại một phản ứng nhạt nhẽo trong nước, và những ai ở nước ngoài đang tìm kiếm lợi nhuận cũng không có lý do gì để hân hoan với đề xuất này. Từ các chính trị gia đến các nhà kinh tế ở Wall Street, các bình luận vẫn tỏ ra nghi ngờ rằng ngân sách của Bush có thể đưa ra được một kế hoạch thực tế để làm giảm thâm hụt, một điều rất cần thiết để ổn định nền kinh tế thế giới. Kế hoạch này kêu gọi cắt giảm toàn diện các khoản chi tiêu nội địa và cần phải được quốc hội thông qua – nhưng khó có thể được duyệt vì nhiều kế hoạch cắt giảm trước đây đã từng bị bác bỏ. Thực ra chỉ có khoảng 30% các khoản cắt giảm chi tiêu là khả thi, chưa đủ để làm giảm thâm hụt một cách đáng kể.
Đáng kể hơn so với các khoản thâm hụt của năm nay, những dự báo 10 năm thật sự có thể làm người ta phải nhướng mày: trong thập niên tới, nợ của Mỹ có thể phát sinh thêm nhiều ngàn tỉ Đô-la. Nếu đúng như vậy thì đồng Đô-la sẽ có khả năng lâm nguy; “một cuộc đua từ bỏ đồng Đô-la” trên toàn thế giới sẽ gây ra những hậu quả khôn lường.
Tất cả các nước lớn đều gặp phải những khó khăn dài hạn về tài chính công do dân số già đi và những hứa hẹn quá hào phóng về lương hưu cũng như chăm sóc y tế đối với người cao tuổi. Tuy nhiên, trong số những nước này, chỉ có Mỹ phải vay mượn quốc tế để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai – (tức là chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu) khổng lồ và đang gia tăng có thể châm ngòi cho sự rớt giá nhanh chóng của đồng Đô-la,đưa đến hậu quả là gia tăng lãi suất và suy thoái, hoặc tệ hơn nữa. Các đối tác thương mại của Mỹ cũng không thoát khỏi cơn chấn động này.
Viễn cảnh thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại còn tiếp diễn làm nảy sinh một vấn đề đối với những người dự định mua tài sản Đô-la ở nước ngoài. Không ai nghi ngờ tiềm năng tăng trưởng dài hạn của Mỹ là nhanh hơn châu Âu hoặc cả Nhật. Thị trường tài chính của Mỹ cũng lớn hơn và xoay vòng nhanh hơn. Tỉ suất lợi nhuận trên vốn thường cũng cao hơn và hệ thống kế toán cũng không thua kém, thậm chí có thể cho là tốt hơn các nước, cho dù có những vụ bê bối kiểu Enron. Hoạt động tài chính công dài hạn của EU và Nhật nếu so ra thì xấu hơn do tỉ lệ sinh đẻ thấp và qui định nhập cư cứng nhắc hơn, song song với những lợi ích được hứa hẹn hậu hĩnh. Tất cả đều là những lý do tốt đẹp để tích lũy tài sản theo mệnh giá Đô-la, đặc biệt khi đồng Euro hay đồng Yên mua được nhiều Đô-la hơn trước đây.
Mặt khác, người tiêu dùng Mỹ thì ngập trong nợ nần: từ 1999 đến 2004, thu nhập khả dụng đã tăng thêm 2 ngàn tỉ Đô-la, nhưng nợ trả góp và nợ tiêu dùng khác tăng gấp đôi con số này. Do đó, người tiêu dùng sẽ có khả năng bị thiệt hại nếu đồng nội tệ rớt giá hay lãi suất tăng. Việc mua tài sản theo Đô-la là thật sự rủi ro ngay cả khi chính phủ Mỹ (không giống hầu hết những con nợ khác) có thể in thêm Đô-la để trả những gì đã vay. Các khoản cắt giảm thuế mạnh tay đã loại bỏ khả năng điều chỉnh hơn nữa. Cục Dự Trữ Liên Bang (Fed) có thể mất kiểm soát lãi suất nếu người mua trái phiếu chính phủ ở nước ngoài ngừng mua. Ngay cả Alan Greenspan và những quan chức khác của Fed cũng đã thể hiện sự quan ngại về mức thâm hụt tài khoản vãng lai hiện tại và dự báo. Nếu các nước khác bắt đầu bán Đô-la, thì hoàn toàn có khả năng hình thành một cuộc “tháo chạy” và kéo giá trị đồng Đô-la xuống thấp nhanh chóng.
Người mua có thể giả định rằng các ngân hàng trung ương sẽ không cho phép đồng Đô-la rớt giá nghiêm trọng như vậy vì nó sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế thế giới. Họ sẽ mua tài sản theo Đô-la với kỳ vọng rằng chính phủ sẽ bảo vệ cho tải sản mà họ đã đánh cược. Hành vi này được gọi là rủi ro về mặt đạo đức hay tâm lý ỷ lại, và nó có thể làm cho những điều chỉnh sau cùng càng trở nên tệ hại hơn, như các nước vay nợ có thể thấy trong cuộc khủng hoảng châu Á. ngay cả khi các ngân hàng trung ương ra tay ngăn chặn đồng Đô-la sụp đổ, một quỹ đầu tư hỗ tương hay tổ chức đầu tư nào khác vẫn có thể đặt cược tiền tệ theo tình huống có tổn thất. Cuối cùng, điều này sẽ gây gián đoạn các thị trường tài chính, một tình huống suýt xảy ra với Quỹ quản lý vốn dài hạn, mà vài năm trước đã bị sụp đổ.
Nếu có được những chỉ báo cho thấy cần phải ưu tiên cắt giảm thâm hụt của liên bang Hoa Kỳ, thì khả năng xảy ra và mức độ nghiêm trọng của những hậu quả tiêu cực sẽ được hạn chế đáng kể. Tuy nhiên, trong khi một bộ phận thiểu số đảng viên Cộng Hòa và một vài đảng viên Dân chủ vẫn chủ trương “cắt giảm thâm hụt”, thì một nhóm đầy quyền lực trong đó có Phó tổng thống Cheney, vẫn cho rằng “thâm hụt là không nghiêm trọng”. Nhóm này ưu tiên việc tiếp tục cắt giảm thuế và cải cách an sinh xã hội hơn là giảm thâm hụt. Nếu không cắt giảm chi tiêu cho Iraq và cải cách chế độ ưu trí (đặc biệt là chăm sóc y tế), cũng như kiểm soát những dạng chi tiêu khác, thì sẽ rất khó kéo thâm hụt xuống một cách đáng kể.
Đối với những ai mong muốn thấy “đỉnh điểm” - nếu như thực sự có – thì tốc độ tăng lãi suất ngắn hạn của Cục Dự Trữ Liên Bang có thể là một dấu hiệu. Nếu người nước ngoài bắt đầu bán trái phiếu kho bạc trong khi chúng vẫn có suất sinh lợi cao hơn lạm phát, thì Fed sẽ không còn chọn lựa nào khác ngoài việc tăng lãi suất nhanh hơn so với dự kiến. Những sự gia tăng này tự chúng sẽ lan truyền sang lãi suất dài hạn và sẽ đẩy chi phí thế chấp và các khoản vay mượn khác lên cao. Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, xây dựng, và sức mua những hàng hóa lâu bền (như ô tô, nội thất) sẽ biến mất. Xuất khẩu sẽ có lợi nhưng tác động cuối cùng sẽ là tiêu cực. Nếu tốc độ tăng lãi suất đủ mạnh thì suy thoái sẽ là kết cục hầu như không thể tránh khỏi.
Các ngân hàng trung ương nước ngoài hiểu rõ mức độ nhạy cảm của nền kinh tế nước mình và muốn duy trì xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Điều đó có xu hướng thúc đây họ mua nợ Đô-la nhiều hơn. Tuy nhiên, nỗi lo khu vực tư nhân bán tháo nợ Đô-la hoặc một ngân hàng trung ương “yếu bóng vía” nào đó tìm cách sớm thoát khỏi tài sản Đô-la có thể tạo ra một sự cảnh giác. Với thâm hụt tài khoản vãng lai hơn 700 tỉ Đô-la năm nay của Mỹ, thì chỉ cần tốc độ mua nợ chậm đi thôi cũng đủ để kéo đồng Đô-la tụt xuống và đẩy lãi suất lên cao. Điều này chưa xảy ra, nhưng nếu không có những hành động điều chỉnh thì rủi ro chắc chắn sẽ gia tăng. Liệu Washington có để ý đến những cảnh báo này chăng?



Comments on this Article
Post new comment