Thâm hụt của Mỹ có đe dọa đến sự ổn định tài chính toàn cầu hay không?

Published on YaleGlobal Online Magazine (http://yaleglobal.yale.edu)
Home > Thâm hụt của Mỹ có đe dọa đến sự ổn định tài chính toàn cầu hay không?

Thâm hụt của Mỹ có đe dọa đến sự ổn định tài chính toàn cầu hay không?

Thâm hụt của Mỹ có đe dọa đến sự ổn định tài chính toàn cầu hay không?

Không, khi Mỹ vẫn là điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất – và sử dụng vốn nước ngoài tốt hơn.
Hilton Root
YaleGlobal, 13 October 2004

LOS ANGELES: Vai trò của Mỹ trong toàn cầu hóa đã nổi lên thành tâm điểm tranh luận trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ lần này. Ý kiến chính trị và của các chuyên gia đều có nhận định chung rằng thâm hụt thương mại ngày càng tăng và xu hướng vay mượn thế giới ồ ạt là mối đe dọa cho tương lai của Mỹ và tiếp đến là sự ổn định toàn cầu. Nhưng lối nói ngoa ngữ của các ứng cử viên đang dẫn đến những đề xuất phi thực tế và thậm chí nguy hiểm, và chúng có thể nhanh chóng hình thành những dấu hiệu báo trước sự biến động lớn về chính trị mà các ứng cử viên này đang cố tránh né.

Nhiều nhà kinh tế có ảnh hưởng trên thế giới như Paul Krugman, Jeffrey Sachs, Larry Summers, các nhà kinh tế ở IMF cùng các lãnh đạo doanh nghiệp như Peter Peterson và Warren Buffet tin rằng các chính sách ngân sách của Mỹ và khoản thâm hụt thương mại 500 tỉ đô-la đe dọa sự ổn định tài chính toàn cầu. Các chính trị gia, do e ngại nền kinh tế Mỹ sẽ phụ thuộc vào lòng trắc ẩn của các nhà đầu tư nước ngoài, đã thúc giục thực hiện các chính sách bảo hộ, mà các chính sách này có khả năng sẽ kích hoạt nhiều làn sóng mới phản đối Mỹ đồng thời cản trở các bước tiến trong tương lai hướng tới hội nhập toàn cầu. Nhưng liệu những chính sách ngân sách có tầm nhìn ngắn này, như các nhà chỉ trích nêu ra, có thật sự đưa nền kinh tế thế giới đến tai họa hay không?

Bất kể các mối nghi ngại của những chuyên gia, cầu đô-la trên thế giới vẫn mạnh. Thật vậy, các khoản thâm hụt ngân sách to lớn đã buộc chính phủ Mỹ tăng lãi suất, từ đó thu hút vốn nước ngoài vào Mỹ. Quan trọng hơn, sự tin tưởng vào đồng đô-la ngày càng cao và được thúc đẩy bởi những động lực nằm ngoài sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ Mỹ.

Năng lực ngân sách của một nước không chỉ dựa vào tỉ lệ tiết kiệm nội địa, mà còn dựa vào uy tín chung của các định chế chính trị và tính ổn định của các tổ chức xã hội trong nước. Trước khi cho vay, các chủ nợ nước ngoài đánh giá khả năng trả nợ bằng cách theo dõi những tổ chức chính trị của nước đi vay có lành mạnh và được hỗ trợ bởi sự đồng thuận xã hội hay không. Nhiều nhà phê bình tin rằng hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc y tế đang thiếu tiền của Mỹ đe dọa sự ổn định tài chính của nước này trong tương lai; cuộc tranh luận này về mặt chính trị đã phân chia dân số Mỹ làm đôi. Nhưng vẫn có thể thực hiện một giải pháp cho sự phân chia này trong bối cảnh của những định chế trên. Không có đảng phái nào muốn gánh lấy trách nhiệm hay đứng ra đòi hỏi một hiến pháp mới để thấy rằng những quyền lợi của mình được bảo vệ.

Thực tế, những so sánh dài hạn giữa các khu vực trên thế giới cho thấy sự ổn định và lành mạnh tương đối của nền kinh tế Mỹ là không có thay thế.

Ở châu Âu, khu vực nhà nước nặng gánh đang trì kéo tăng trưởng và đánh mất sức hấp dẫn của những tài sản châu Âu. Để châu Âu thật sự hài lòng với tỉ phần lớn hơn trong các dòng vốn quốc tế, các chính sách đang là nền tảng cho sự ổn định chính trị phải thay đổi mạnh. Công dân châu Âu sẽ phải điều chỉnh tổ chức xã hội của mình để giảm gánh nặng an sinh lên nhà nước, hội nhập dân di cư và củng cố các định chế chính trị khu vực thông qua việc giảm đi tính độc lập địa phương.

Các nền kinh tế châu Á thì đang gánh chịu hậu quả từ mối quan hệ (được xác định) yếu kém giữa nhà nước và nền kinh tế tư nhân. Ở Trung Quốc, các định chế kém năng lực đã tạo điều kiện cho sự gia tăng thâm hụt và bất ổn ngân sách. Trong khi chính phủ cần sự giúp đỡ để tài trợ cho chính sách mở rộng đầu tư công của mình và hỗ trợ cho các ngành quốc doanh, thì khối lượng của cải của khu vực tư nhân đang phát triển vẫn không bị đánh thuế. Tương tự, các con hổ kinh tế châu Á trong đó có Nhật, phải chịu hậu quả tự sự mâu thuẫn văn hóa về vai trò của nhà nước trong việc điều tiết ngành. Nhiều công dân không quyết định được sự bảo vệ nhà nước cho lực lượng lao động, nên e ngại việc thay thế vai trò của nhà nước với gia đình. Kết quả, thị trường lao động trở nên chai cứng không linh hoạt. Cũng không có dấu hiệu cho thấy Trung Đông thay đổi cách thức của mình.

Chính phủ các nước Mỹ Latin phải chịu hậu quả do không có khả năng đạt được sự đồng thuận trong ưu tiên chi tiêu. Các chính phủ không thể thu đủ ngân sách vì người nghèo từ chối đóng thuế cho những dịch vụ không được thực hiện, còn người giàu cũng không muốn đóng thuế cho những dịch vụ mà họ không sử dụng. Không có chính phủ nào trong khu vực này cảm thấy tự tin rằng tăng thuế sẽ không phương hại đến sự ổn định thể chế. Do đó đa số các nước Mỹ Latin luôn luôn gặp khủng hoảng ngân sách, trong khi tiền tiết kiệm của người dân lại được lưu gởi ở nước ngoài.

Tác động gây thiệt hại của sự bất ổn chính trị luôn là một khả năng ở Trung Quốc hay Mỹ Latin khi những vấn đề liên quan đến nguồn vốn dành cho các chương trình xã hội được nêu lên. Ở Mỹ, việc tăng thuế dù không thuận về mặt chính trị, sẽ không kích thích khủng hoảng thể chế. Mặc dù có những khác biệt rõ nét được nêu ra giữa các ứng cử viên tổng thống năm nay, quan điểm nào khi đã được thông qua luật đều chắc chắn sẽ được quốc hội tài trợ. Sẽ không có chuyện dùng đến quân đội vì một bên không đồng ý với kết quả bầu cử. Ngay cả khi một đảng mới lên cầm quyền, họ cũng phải tôn trọng những trách nhiệm nợ phát sinh dưới thời chính quyền trước. Hơn nữa, nguồn vốn bổ sung cần huy động cho các chương trình được thống nhất sẽ không tạo ra sự chống đối của đảng đối lập.

Như vậy, số nợ đang gia tăng của Mỹ là gì? Về mặt lịch sử, có nhiều ví dụ cho thấy đất nước hùng mạnh nhất trên thế giới chính là con nợ lớn nhất của thế giới. Sự nổi lên của Hà Lan trong thế kỷ 17 và Anh trong thế kỷ 18 có thể được lý giải bằng khả năng vay nợ lãi suất thấp của họ. Tính theo tỉ lệ thu nhập quốc dân thì cả hai nước này đều vay nhiều hơn các đối thủ đương đại, như Pháp, Nga và Tây Ban Nha.

Khả năng vay nợ lãi suất thấp có thể là nguồn gốc của sức mạnh nhưng cũng có thể là một trách nhiệm nặng nề. Nếu mức lãi suất đột ngột thay đổi do tỉ lệ ngoại thương ngoài dự kiến gây ra, gánh nặng của các đảng phái mạnh có thể bị khuếch đại vượt ra ngoài khả năng trả nợ. Các nước mạnh về mặt chính trị sẽ đối mặt với nguy cơ mở rộng quá mức phạm vi ngân sách của mình vì trở nên quá hấp dẫn đối với nguồn vốn tiết kiệm của các nước láng giềng. Người ta thường gửi tiền đến những nước có nền chính trị mạnh mẽ, do đó cho phép các nước này tiêu xài nhiều hơn cái mình có. Nếu xảy ra trục trặc ngắn hạn trong khả năng trả nợ hay đi vay, khủng hoảng tài chính nghiêm trọng có thể sẽ xảy ra. Hậu quả từ việc các dòng vốn bất ngờ sụp đổ có thể rất khốc liệt, ngay cả đối với một hệ thống tài chính phức tạp. Đây chính là mối nguy mà tổng thống Mỹ kế nhiệm phải đối phó.

Mỉa mai thay, các nhà phê bình lại xem việc vay mượn nước ngoài quá lố của Mỹ là mối nguy cho toàn cầu hóa. Có thể dễ dàng đưa ra lập luận phản bác như sau: việc tham gia vào nền kinh tế Mỹ giúp các nhà đầu tư quốc tế có lợi từ sự quản lý thành công và thịnh vượng của Mỹ.

Các nhà làm chính sách Mỹ nên khuyến khích tiết kiệm tư nhân và hạn chế chi tiêu của chính phủ, nhưng các chính sách ngân sách mới trong nước sẽ không đủ để chuyển dịch luồng vốn quốc tế đến những nơi cần nhất trên thế giới. Uy tín của các định chế chính trị nội địa Mỹ đã mang lại cho nước này một sức mạnh khiến cho những dự án đầu tư bằng đô-la trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Trong một tương lai có thể dự báo, thay vì sự cường điệu không thực tế về việc giảm mạnh thâm hụt thương mại và ngân sách, các chính trị gia có thể khôn ngoan hơn nếu thực hiện một chính sách đầu tư được triển khai tốt. một chính sách dựa trên sự đầu tư lâu dài và liên tục vào giáo dục, công nghệ và công bằng xã hội sẽ dọn đường cho tăng trưởng kinh tế. Nguồn lợi dồi dào trong tương lai phải là mục tiêu của nguồn vốn vay mượn hôm nay.

Lịch sử thâm hụt ngân sách lâu dài của Mỹ, sự chi tiêu quá mức của chính phủ liên bang và sự thâm hụt thương mại đã không ngăn cản hiện tượng vốn bỏ đi khỏi các nước đang phát triển. Vốn bỏ các nước đang phát triển đến Mỹ chủ yếu là do sự thất bại trong quản lý nhà nước ở các nước đó, mà điều này thì chính quyền Mỹ không thể điều chỉnh được. Vốn không lưu lại ở nước nào cần nó nhất, mà ở nước nào đối xử với nó tốt nhất.

Hilton Root là cố vấn cao cấp của Bộ Tài chính, giáo sư đặc quyền thỉnh giảng về kinh tế tại Đại học Claremont và là thành viên cao cấp của Viện Milken.

Rights:© 2004 Yale Center for the Study of Globalization

Comments on this Article

Post new comment

Enter verification code before submit

Comments are moderated and reviewed before they are posted to ensure they are on topic, relevant, and not abusive. Comments are not edited, and readers are urged to contribute to civil discourse on the topic.